Chuyên trang của Tạp chí Cộng sản nghiên cứu, tuyên truyền nghiệp vụ công tác Đảng
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phòng, chống lãng phí để phát huy hiệu quả nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

PGS, TS Hoàng Văn Hoan - Hoàng Mỹ Nguyên Trang
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Đại học VinUni

XDĐ - Để khai thác, phân bổ, sử dụng và phát huy hiệu quả các nguồn lực, đòi hỏi phải có nhiều giải pháp phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra và đặc biệt quan tâm giải pháp về “phòng, chống lãng phí” nguồn lực. Bài viết làm rõ vấn đề nguồn lực phát triển; thực trạng khai thác, sử dụng các nguồn lực phát triển ở Việt Nam thời gian qua; từ đó, đề xuất giải pháp phòng, chống lãng phí nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với công nhân, người lao động tại Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi_Ảnh: TTXVN

 

1. Nguồn lực phát triển kinh tế là một khái niệm rất quan trọng trong kinh tế học. Có thể hiểu, nguồn lực phát triển là các yếu tố tạo thành vốn (theo nghĩa rộng bao gồm cả lao động) hay các yếu tố đầu vào cho nền kinh tế. Theo nhiều tài liệu quốc tế, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, có thể phân loại vốn thành 05 dạng, đó là vốn sản xuất, vốn tài chính, vốn nhân lực, vốn xã hội và vốn tài nguyên. Do vậy, tương tự cũng có thể phân loại nguồn lực thành 5 dạng nguồn lực: Sản xuất, tài chính, xã hội, nhân lực và tự nhiên. Đồng thời, đứng trên góc độ vĩ mô, cần phân dạng nguồn lực thành nguồn lực tiềm năng và nguồn lực đang sử dụng, nguồn lực khan hiếm, nguồn lực có khả năng tái tạo và nguồn lực có đặc tính vĩnh cửu để có thể tính toán, cân đối được bài toán về dự trữ, nuôi dưỡng và huy động nguồn lực. Trong hệ thống và các tiêu chí xác định các nguồn lực của đất nước ta hiện nay, có thể khái quát những nhóm nguồn lực cơ bản như: Tài nguyên thiên nhiên; con người; tài chính; khoa học và công nghệ; văn hóa; nguồn lực bên ngoài;… Như vậy, nguồn lực bao gồm cả nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần; nguồn lực nội sinh và ngoại sinh, nói cách khác là nội lực và ngoại lực.

Lãng phí là làm tốn kém, hao tổn một cách vô ích(1). Khoản 2, Điều 3 Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013, quy định: Lãng phí là việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên không hiệu quả. Đối với lĩnh vực đã có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thì lãng phí là việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc không đạt mục tiêu đã định.

Như vậy, từ những định nghĩa trên, có thể thấy: (1) Lãng phí là làm hao tổn, tốn kém một cách vô ích; (2) Lãng phí là sử dụng nguồn lực tài chính, lao động và các nguồn lực khác vượt quá định mức, tiêu chuẩn, chế độ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, nhưng chất lượng đạt thấp hơn hoặc không đúng mục tiêu đặt ra; (3) Tiêu chí xác định tình trạng lãng phí là: Những chi phí, tổn hao và sử dụng nguồn lực trên mức hợp lý, phải có và cần thiết; không đạt được mục tiêu, kết quả như đã xác định hoặc nếu có thì hiệu suất có được ở mức thấp; hư hao, tổn thất không đáng có hoặc không thể được phép có.

Dưới góc độ của phát triển bền vững, lãng phí chính là một khuyết tật của quản lý xã hội; lãng phí là một loại hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi nguy hiểm của lãng phí, suy đến cùng là sự hủy hoại tài sản, thời gian, nhân lực của xã hội từ các hoạt động công quyền (xây dựng, điều hành, thực thi chính sách). Trong điều kiện của một quốc gia đang phát triển, trình độ công nghiệp hóa, khoa học và công nghệ trong sản xuất, dịch vụ và quản lý còn hạn chế; nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt và hầu như không có khả năng tái tạo càng cho thấy sự nguy hiểm, nguy hại của lãng phí. Tính chất nghiêm trọng, nguy hiểm của lãng phí chính là sự thiệt hại vật chất của xã hội.

Từ những phân tích trên, có thể đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng các nguồn lực cho phát triển ở nước ta thời gian qua như sau:

(1) Đối với nguồn lực tài nguyên thiên nhiên: Việc khai thác, sử dụng nguồn lực tài nguyên thiên nhiên ở nước ta thời gian qua đã có sự chuyển biến theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững hơn, đặc biệt là sự thay đổi về nhận thức trong quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên; từ đó, hình thành các quan điểm, chủ trương, đường lối sát hợp với điều kiện đặc thù và tiềm năng nguồn tài nguyên quý giá của nước ta. Tuy nhiên, quá trình khai thác nguồn lực tài nguyên thiên nhiên ở nước ta còn nhiều vấn đề tồn tại, trong đó, sự hiểu biết về tiềm năng, trữ lượng, giá trị của các nguồn tài nguyên của đất nước còn nhiều hạn chế; việc khai thác, sử dụng nhiều nhóm tài nguyên chưa hợp lý, kém hiệu quả và không bền vững dẫn đến lãng phí nguồn lực quốc gia, thậm chí một số nguồn tài nguyên bị suy thoái, cạn kiệt. Thể hiện rõ nhất của đặc điểm này chính là vai trò quyết định tăng trưởng GDP và xuất khẩu của các nhóm ngành: Khai thác khoáng sản (dầu thô, than đá); nông nghiệp (lúa gạo, các loại nông sản xuất khẩu, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, khai thác rừng).

(2) Đối với nguồn nhân lực: Trong gần 40 năm đổi mới, nước ta đã tận dụng được lợi thế từ sự dồi dào của nguồn nhân lực để tập trung phát triển từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với đó, những đổi mới trong khu vực kinh tế nhà nước, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cách mạng công nghiệp 4.0,... trong những năm qua đã làm thay đổi đáng kể áp lực việc làm; làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới, đòi hỏi một lực lượng lao động lớn có tay nghề, trình độ đáp ứng được yêu cầu. Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp, xây dựng và dịch vụ (năm 2022, 72,4% lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; chỉ còn 27,6% làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp). Nguồn nhân lực chất lượng cao được khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn, năng suất lao động ngày càng tăng lên. Nhiều tiềm năng, ý tưởng sáng tạo của nguồn lực con người Việt Nam đã được khai thác, hiện thực hóa. Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam tương đối thấp so với các quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, quá trình khai thác nguồn lực này còn bộc lộ một số tồn tại như: Chưa khai thác được hết tiềm năng của nguồn nhân lực, năng suất lao động thấp so với khu vực và thế giới (năm 2023, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 11,4% so với Singapore; 35,4% so với Malaysia; 64,4% so với Thái Lan;…)(2). Tình trạng “chảy máu chất xám” đang là thực trạng báo động nước ta; xu hướng dịch chuyển của lao động Việt Nam sang những thị trường lao động hấp dẫn hơn. Hiện Việt Nam đang có khoảng 3,7 triệu cư dân, lao động đang sinh sống, công tác và làm việc tại nước ngoài(3).

(3) Đối với nguồn lực tài chính (vốn): Nguồn lực tài chính là yếu tố then chốt trong hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Nguồn lực tài chính gồm 2 loại: Vốn trong nước (vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước, vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, vốn tư nhân) và nguồn vốn nước ngoài (FDI, ODA, thị trường vốn quốc tế,…). nước ta, nguồn lực tài chính đã phát huy tác dụng và đóng vai trò ngày càng quan trọng, song chưa thực sự là lực lượng chi phối. Bằng chứng rõ nhất là quá trình chuyển hóa đất đai và sức lao động từ hình thái tự nhiên thành hình thái hàng hóa - giá trị (chuyển thành hình thái vốn) cho đến nay vẫn đang diễn ra bước đầu hoàn thiện. Xu hướng phát triển các ngành dùng nhiều vốn hơn là dùng nhiều lao động và có định hướng công nghệ cao. Đây cũng là một đặc trưng nổi bật của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành trong giai đoạn vừa qua. Việc đầu tư vẫn dựa vào nguồn vốn nhà nước; chưa hoàn toàn chịu sự điều tiết thị trường trong việc định hướng cơ cấu; hầu như ít có sự tham gia của khu vực tư nhân với tư cách “chủ đầu tư”; chưa chú ý nhiều đến mục tiêu tạo việc làm. Từ đó, dẫn đến sự thiên lệch trong cơ cấu đầu tư - cơ sở trực tiếp quyết định sự thiên lệch cơ cấu ngành.

(4) Đối với nguồn lực khoa học công nghệ: Thực tiễn cho thấy, nguồn lực khoa học và công nghệ góp phần rất quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tác động đến tổng cung và tổng cầu; các sản phẩm khoa học và công nghệ đóng góp trực tiếp vào GDP. Ở nước ta, trong giai đoạn 2016-2020, chỉ số đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng cao, bình quân đạt 45,7%/năm, vượt mục tiêu đặt ra (30 - 35%/năm). Về xếp hạng Đổi mới sáng tạo, năm 2022 Việt Nam xếp hạng 48/132 quốc gia (giảm 4 bậc so với năm 2021); đứng thứ 2 (sau Ấn Độ) trên 36 quốc gia/nền kinh tế có mức thu nhập trung bình thấp được xếp hạng; xếp thứ 10/17 nền kinh tế ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, tỷ trọng của khoa học và công nghệ trong GDP còn ở mức khá thấp (chỉ trên dưới 2,5%); nếu loại trừ ngành chuyên môn thì còn thấp hơn (tỷ trọng của ngành này thấp thứ 13 trong 20 ngành cấp II). Tốc độ tăng của ngành này nhìn chung thấp hơn tốc độ tăng tương ứng của cả nước. Sự so sánh mức độ đóng góp của TFP vào tăng trưởng và tỷ trọng của khoa học và công nghệ trong GDP cho thấy trong giai đoạn vừa qua, nền kinh tế nước ta vẫn đang tăng trưởng theo chiều rộng, chưa thật sự đạt chất lượng và hiệu quả, do đó, chậm cải thiện năng lực cạnh tranh. Đây thực sự là một vấn đề mấu chốt của mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần phải giải quyết trong giai đoạn tới.

(5) Đối với nguồn lực văn hóa: Có thể nói, nguồn lực văn hóa ngày càng đóng vai trò to lớn trong xã hội hiện đại; văn hóa là một trong các yếu tố tạo nên sức mạnh mềm trong phát triển đất nước. Ở Việt Nam, việc khai thác nguồn lực văn hóa chủ yếu trên các khía cạnh chính là tinh thần yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo để phát huy khả năng, tinh thần của nhân dân tập trung xây dựng và phát triển đất nước; khai thác văn hóa lao động, nhờ đó, đã nâng cao hiệu quả lao động, tạo ra những sản phẩm lao động có chất lượng tốt với hàm lượng trí tuệ cao; khai thác văn hóa vật thể đóng góp tích cực vào nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa khai thác hết các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; chưa tạo được phong trào thi đua hiệu quả, thực chất đến từng người dân, chưa làm cho giới trẻ hiểu hết các giá trị truyền thống, “hồn cốt” của dân tộc để phát huy, gìn giữ,... Đây chính là sự lãng phí lớn trong khai thác, phát huy và sử dụng nguồn lực văn hóa trong phát triển đất nước thời gian qua.

(6) Đối với nguồn lực địa chính trị: Khai thác nguồn lực tài nguyên địa chính trị có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng ở nước ta, đó là cơ sở để chúng ta xây dựng những phương án chiến lược và sách lược nhằm tăng cường vị thế quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội. Trong thời gian qua, nước ta đã tận dụng khai thác lợi thế địa chính trị thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với các nước trên thế giới; nằm giữa vùng kinh tế sôi động bậc nhất thế giới, cho phép nước ta phát triển hoạt động giao thương nội địa cũng như với khu vực Đông Nam Á, châu Á và trên toàn thế giới. Khai thác nguồn lực địa chính trị đã giúp chúng ta phát triển du lịch biển - một chiến lược phát triển của ngành du lịch. Khai thác lợi thế địa chính trị là vừa phát triển kinh tế nhưng đồng thời bảo đảm an ninh, trật tự, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước.

(7) Đối với nguồn vốn ngoại lực: Vốn đầu tư nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Với những chính sách đổi mới, ưu đãi, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào nước ta ngày càng tăng lên. Việt Nam đã tận dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho người lao động. Tuy nhiên, mặt tồn tại của quá trình khai thác, sử dụng nguồn vốn ngoại lực (vốn vay) là vấn đề về tiến độ giải ngân; hiệu quả của các công trình, dự án; tình trạng đầu tư còn dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả; vấn đề tham nhũng, tiêu cực; vấn đề nợ quốc gia vẫn chiếm tỷ trọng cao trong GDP (tỷ lệ nợ công chiếm 39% GDP năm 2021, theo Dữ liệu World Economic Outlook, tháng 10-2023);…

2. Sau gần 40 năm đổi mới, bối cảnh thế giới chuyển sang thời đại công nghệ cao; thay đổi cấu trúc dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có sức mạnh “đảo lộn logic phát triển” mà loài người chưa từng được thấy trong ba cuộc cách mạng công nghiệp trước; thay đổi tương quan sức mạnh và cục diện phát triển toàn cầu - với sự trỗi dậy mạnh mẽ của một loạt nền kinh tế đi sau; toàn cầu hóa “biến dạng” kết hợp với sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ. Các yếu tố nói trên cộng hưởng lại, tạo thành một thời đại phát triển mới làm dịch chuyển các nguồn lực trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là nguồn lực con người và nguồn lực tài chính; đồng thời, sự “cạnh tranh” đối với nguồn lực ngày càng khốc liệt, việc tìm kiếm, chiếm giữ, dự trữ các nguồn lực mới, đặc biệt là nguồn lực chiến lược (có tính khan hiếm) và việc bảo vệ những nguồn lực này, sử dụng chúng hiệu quả hơn luôn là mối quan tâm đối với mọi quốc gia.

Kinh tế Việt Nam đang ở vào một thời điểm mang tính bước ngoặt. Việt Nam là nền kinh tế có độ mở cửa cao; do đó, để bảo đảm lưu thông các nguồn lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thì phòng, chống lãng phí để phát huy hiệu quả nguồn lực phát triển đất nước là công việc cấp bách có tính chiến lược, cần được triển khai quyết liệt, đồng bộ với những giải pháp hữu hiệu, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, trở thành tự nguyện, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân, văn hóa ứng xử trong thời đại mới(4); từ đó, cần quan tâm các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần thống nhất nhận thức đấu tranh phòng, chống lãng phí nguồn lực cho phát triển là cuộc chiến chống “giặc nội xâm” đầy cam go, phức tạp như tinh thần và tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về chống lãng phí, đó là: “Chống lãng phí là cuộc chiến chống “giặc nội xâm” đầy cam go, phức tạp; là một phần của cuộc đấu tranh giai cấp; có vị trí tương đương với PCTNTC”. Lãng phí và tham nhũng có mối liên hệ chăt chẽ với nhau. Tham nhũng và lãng phí đều là nguyên nhân trực tiếp làm thâm thủng ngân sách nhà nước, làm suy yếu các nguồn lực và chúng đều là những mối đe dọa đến sự ổn định chính trị, xã hội. Trong nhiều trường hợp, lãng phí bắt nguồn từ động cơ vụ lợi của một bộ phận cán bộ, công chức có quyền. Khi đó để có thể tham nhũng, làm lợi cho cá nhân một phần thì những đối tượng có chức, có quyền đã tạo điều kiện để làm lãng phí nguồn lực lớn hơn rất nhiều so với phần mà cá nhân đó tham nhũng. Như vậy, những mất mát về vật chất, tiền của mà lãng phí gây ra lớn hơn rất nhiều so với tham nhũng. Tham nhũng phát triển tất yếu dẫn đến lãng phí ngày càng lớn và ngược lại, nếu tình trạng lãng phí không được ngăn chặn kịp thời thì đó chính là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng phát triển.

nước ta hiện nay, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các nguồn lực, cả nguồn lực vật chất lẫn nguồn lực tinh thần, cả nguồn lực nội sinh và ngoại sinh, để sản xuất ra của cải cho xã hội, không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu cơ bản của cuộc sống, mà còn xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, thực hiện dân giàu, nước mạnh, phát triển con người toàn diện. Các nguồn lực cũng là nền tảng để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, là nhân tố bảo đảm “không ai bị bỏ lại phía sau” trong quá trình phát triển. Theo đó, phòng, chống lãng phí và phát huy hiệu quả các nguồn lực đòi hỏi phải có tầm nhìn chiến lược, đổi mới sáng tạo, nhận diện và nắm bắt được yêu cầu, đòi hỏi khách quan của sự phát triển; trên cơ sở đó, xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối, chiến lược phát triển phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Tiết kiệm, chống lãng phí nguồn lực cũng phải được thể hiện qua những cam kết, kế hoạch, có lãnh đạo, có chỉ tiêu cụ thể, tiến hành thường xuyên, triệt để. Xây dựng, triển khai thiết thực các cuộc vận động, phong trào thi đua về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo khí thế thi đua sôi nổi, rộng khắp trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Kịp thời biểu dương, khen thưởng, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong thực hiện tốt công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí(5).

Thứ hai, xây dựng chiến lược nuôi dưỡng, phân bổ, sử dụng và dự trữ nguồn lực, cũng như tạo dựng, nâng cao chất lượng nguồn lực cho phát triển đất nước. Việt Nam cần quan tâm đúng mức đối với dự trữ nguồn lực. Nên sớm tổ chức tổng điều tra lại toàn bộ tài nguyên và khoáng sản của đất nước. Trong điều kiện trình độ công nghệ của chúng ta chưa cao hoặc phải hợp tác với nước khác để khai thác tài nguyên phục vụ cho phát triển thì chúng ta có thể tạm dự trữ những nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm. Nguồn lực cho quá trình phát triển được vốn hóa, không tự xuất hiện mà nó xuất hiện trong những điều kiện nhất định khi người tạo lập và sử dụng nó có được lợi ích kinh tế. Vì thế, việc tạo lập nguồn lực phải được thực thi theo hướng tận dụng cơ hội lôi kéo nguồn lực từ bên ngoài tới mức nhiều nhất có thể; trong khi đó, tạo dựng nguồn lực trong nước tập trung vào phát triển nhân lực, đặc biệt là nhân tài; tăng cường năng lực phát hiện tài nguyên khoáng sản của quốc gia (cả trong đất liền và trong vùng biển quốc gia); hình thành cơ chế chính sách “thu gom” các nguồn vốn phân tán trong xã hội.

Thứ ba, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến sử dụng, khai thác nguồn lực phát triển. Vác văn bản quy phạm pháp luật phải thống nhất, đồng bộ, tránh chồng chéo. Để có được điều này cần tăng cường sự phối hợp, sự trao đổi thông tin giữa các bộ, ngành và địa phương. V nguyên tắc, cần hạn chế phân bổ nguồn lực theo cơ chế “xin - cho”, “hành chính”; ưu tiên thúc đẩy phát triển các thị trường, đặc biệt là các thị trường “đầu vào”, tạo cơ sở để việc phân phối các nguồn lực diễn ra theo đúng nguyên tắc thị trường (cạnh tranh). Các thị trường đầu vào càng đồng bộ, hiệu quả phát triển càng cao. Theo đó, rà soát, bổ sung, sửa đổi kịp thời các quy định về cơ chế quản lý, các định mức kinh tế - kỹ thuật không còn phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước. Triển khai kịp thời, đồng bộ quy định của Luật Đất đai năm 2024 và pháp luật liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản, theo hướng tăng cường công khai, minh bạch các khâu quy hoạch, thu hồi, bồi thường, giao đất, cho thuê đất, quyền khai thác tài nguyên, khoáng sản,… Quy định rõ ràng, cụ thể quyền hạn, trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý đối với đất đai, tài nguyên thiên nhiên.

Nghiên cứu, sửa đổi quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo hướng tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho giám sát, kiểm tra, phát hiện, xử lý mạnh, có tính răn đe cao đối với các hành vi lãng phí. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn cơ chế phân bổ vốn đầu tư, vốn cho chương trình mục tiêu quốc gia trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc đầu tư, tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức theo hướng công khai, minh bạch và có chủ định rõ ràng. Nguồn lực cho đầu tư cần được phân bổ trong một chủ định để tầm nhìn trung hạn và dài hạn, gắn kết chặt chẽ với yếu tố thị trường, với mục tiêu đầu tư, với kết quả đầu ra của dự án đầu tư. Cần đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư công nhưng phải bảo đảm tính chặt chẽ, không tạo kẽ hở dễ bị lợi dụng làm thất thoát, lãng phí vốn đầu tư công.

Thứ tư, siết chặt kỷ cương trong bộ máy nhà nước. Phân công, phân cấp rõ ràng, xây dựng chế độ trách nhiệm và ban hành các chế tài đủ mạnh để điều tiết trách nhiệm của các chủ thể tham gia sử dụng, khai thác và quản lý các nguồn lực; phân định rõ quyền và trách nhiệm của cá nhân, tổ chức. Khi có những sai phạm trong khai thác, sử dụng và quản lý các nguồn lực, các chủ thể tham gia phải bồi thường thiệt hại, xử phạt hành chính, trường hợp nghiêm trọng sẽ bị xử lý hình sự. Tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát, mà trước hết là các biện pháp giám sát và kiểm soát nội bộ, sau đó là các biện pháp kiểm tra, thanh tra từ bên ngoài. Hình thành, duy trì và nâng cao tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ bằng chính quy trình đầu tư, quy trình nghiệp vụ quản lý vốn, quản lý nguồn lực phát triển bằng các quy tắc tổ chức, bố trí cán bộ, quy định trách nhiệm và quyền hạn trong từng khâu, từng công việc của quá trình khai thác và quản lý các nguồn lực. Thường xuyên đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ. Tập trung kiểm tra, thanh tra những khâu yếu kém dễ xảy ra tiêu cực, thất thoát; phát hiện và làm rõ, xử lý nhanh, dứt điểm, nghiêm minh các sai trái, vi phạm. Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò giám sát - tư vấn, phản biện của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; qua đó, giúp “đẩy mạnh phát hiện, xử lý nghiêm minh các vụ vi phạm gây lãng phí lớn tài sản công theo tinh thần “xử lý một vụ cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực”(6).

Thứ năm, xây dựng văn hóa phòng, chống lãng phí nguồn lực cho phát triển đất nước. Tư tưởng về xây dựng văn hóa chống lãng phí mà Tổng Bí thư Tô Lâm nêu ra chính là định hướng chiến lược quan trọng để bảo đảm sự phát triển lâu dài và phồn thịnh cho đất nước. Văn hóa chống lãng phí không chỉ đơn giản là việc tiết kiệm nguồn lực mà còn là hệ thống giá trị, thái độ, hành vi và lối sống được xây dựng trên nền tảng ý thức, trách nhiệm của từng cá nhân và tổ chức trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên. Do đó, để xây dựng văn hóa chống lãng phí các nguồn lực cho phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay cần có một sự đồng bộ giữa các chính sách, quy định pháp luật và sự tham gia tích cực của toàn xã hội. Trước tiên, giáo dục về chống lãng phí cần được lồng ghép vào chương trình học và triển khai mạnh mẽ trong các chiến dịch truyền thông; khuyến khích các mô hình tiết kiệm và đổi mới sáng tạo. Việc xây dựng văn hóa chống lãng phí cũng cần sự chung tay của toàn xã hội. Mỗi cá nhân, mỗi tổ chức đều đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn lãng phí và bảo vệ nguồn lực quốc gia. Đặc biệt, lãnh đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng cần làm gương trong việc thực hành chống lãng phí. Chỉ khi mỗi cá nhân đều có ý thức về việc tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho phát triển, chúng ta mới có thể xây dựng một đất nước hùng cường, thịnh vượng, phát triển bền vững./.


(1) Nguyễn Như Ý, (Chủ biên), Từ điển Tiếng việt thông dụng, Nxb. Giáo dục, H.1998, tr.382.

(2) Số liệu WDI (World Development Indicators) của Ngân hàng thế giới.

(3) Xem Vấn đề chảy máu chất xám và giải pháp thu hút lao động chất lượng cao của Việt Nam (phần 1), https://nguonluc.com.vn/van-de-chay-mau-chat-xam-va-giai-phap-thu-hut-lao-dong-chat-luong-cao-tai-viet-nam-phan-1-a13642.html, cập nhật ngày 22-11/-023.

(4) Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Chống lãng phí, https://www.xaydungdang.org.vn/van-kien-tu-lieu/bai-viet-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-ve-chong-lang-phi-21798, cập nhật ngày 14/-10-2024.

(5) Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Chống lãng phí, tài liệu đã dẫn.

(6) Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Chống lãng phí, tài liệu đã dẫn.


Mới nhất Mới nhất

Đọc nhiều nhất Đọc nhiều nhất