XDĐ - Để thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới và “đi tắt, đón đầu” trong phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước đã xác định: “Bối cảnh hiện nay là thời cơ mà Việt Nam cần nhanh chóng nắm bắt, hành động mạnh mẽ để phát triển kinh tế số và xã hội số, phát triển thêm các ngành nghề kinh doanh mới, mở ra các thị trường mới và tạo thêm nhiều nhu cầu việc làm mới, từ đó bứt phá vươn lên thay đổi thứ hạng quốc gia. Nhiệm vụ phát triển kinh tế số và xã hội số được đặt ở mức ưu tiên cao trong các chiến lược phát triển quốc gia”(1).

Những nội dung trọng tâm trong phát triển kinh tế số của Việt Nam
Kinh tế số là nền kinh tế mà các hoạt động kinh tế được vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua Internet và các nền tảng kỹ thuật số. Nói cách khác, kinh tế số là sự chuyển đổi của các hoạt động kinh tế truyền thống sang mô hình mới, nơi mà dữ liệu được coi là một yếu tố sản xuất quan trọng, công nghệ số (như AI, Big Data, Blockchain, điện toán đám mây,...) là động lực chính và kết nối mạng Internet - phương tiện để tạo ra và phân phối giá trị.
Kinh tế số được chia thành ba thành phần: (1) Kinh tế số lõi (ICT/viễn thông): Bao gồm các ngành trực tiếp sản xuất công nghệ, hạ tầng và dịch vụ số, như sản xuất phần cứng (máy tính, điện thoại), phát triển phần mềm, cung cấp dịch vụ viễn thông và Internet. (2) Kinh tế số nền tảng (Internet/nền tảng): Là các hoạt động kinh tế dựa hoàn toàn vào Internet và các nền tảng kỹ thuật số để tạo ra giá trị, như thương mại điện tử (giống như Shopee, Tiki), dịch vụ tài chính số (như ví điện tử Momo, ngân hàng số), dịch vụ chia sẻ (xe ôm công nghệ, Airbnb). (3) Kinh tế số ngành (chuyển đổi số các ngành): Là sự ứng dụng công nghệ số vào các ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp công nghệ cao, nhà máy thông minh (sản xuất), y tế số, giáo dục trực tuyến...
Thực tiễn phát triển kinh tế của các nước trên thế giới cho thấy kinh tế số có vai trò và tầm quan trọng rất lớn đối với thúc đẩy và phát triển nền kinh tế, tăng hiệu suất, năng suất khi ứng dụng công nghệ giúp tự động hóa và tối ưu hóa quy trình; tạo ra mô hình kinh doanh mới với dịch vụ chia sẻ, thương mại điện tử, nền tảng số; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và mang lại sự tiện lợi, cá nhân hóa trong tiêu dùng và dịch vụ công... Để lãnh đạo phát triển đất nước trong bối cảnh mới, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết và văn kiện quan trọng, trong đó xác định phát triển kinh tế số là một nhiệm vụ trọng tâm và là một trong những đột phá chiến lược để phát triển đất nước, cụ thể: Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019 của Bộ Chính trị “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” đã đặt nền móng cho chính sách phát triển kinh tế số. Nghị quyết đã xác định rõ: “Nội dung cốt lõi của chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số”.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (năm 2021) đã chính thức đưa mục tiêu phát triển kinh tế số vào Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030: Đến năm 2025, kinh tế số đạt khoảng 20% GDP. Đến năm 2030, kinh tế số đạt trên 30% GDP.
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” - nghị quyết được coi là một trong những nghị quyết trụ cột quan trọng, chiến lược phát triển đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã nâng tầm quan điểm về chuyển đổi số, coi đây là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Nghị quyết đặt ra các mục tiêu cụ thể, bao gồm: Phấn đấu đến năm 2030, quy mô kinh tế số của Việt Nam đạt tối thiểu 30% GDP. Đến năm 2045, tỷ lệ này đạt tối thiểu 50% GDP.
Các nghị quyết của Đảng là cơ sở để Chính phủ và các cơ quan nhà nước ban hành các văn bản triển khai cụ thể: Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 3-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; Quyết định số 411/QĐ-TTg, ngày 31-3-2022 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Theo đó, mục tiêu phát triển kinh tế số của Việt Nam đến 2025 và 2030 thể hiện ở mục tiêu về tỷ trọng kinh tế số trong GDP, đây là mục tiêu quan trọng nhất, thể hiện quy mô và vai trò của kinh tế số trong nền kinh tế quốc dân. Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 nêu rõ: Mục tiêu đến năm 2025 tỷ trọng kinh tế số trong GDP đạt 20%, năm 2030 đạt 30%; tỷ trọng kinh tế số ngành trong mỗi ngành, lĩnh vực năm 2025 tối thiểu đạt 10%, năm 2030 tối thiểu đạt 20%; tỷ trọng thương mại điện tử trong tổng mức bán lẻ năm 2025 đạt trên 10%, năm 2030 đạt trên 30%; tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng hợp đồng điện tử năm 2025 đạt trên 80%, năm 2030 đạt trên 100%; tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nền tảng số năm 2025 đạt trên 50%, năm 2030 đạt trên 70%; tỷ lệ nhân lực lao động kinh tế số trong lực lượng lao động năm 2025 đạt trên 2%, năm 2030 đạt trên 3%. Đồng thời, các mục tiêu về năng suất và doanh nghiệp và về giao dịch số cũng được xác định rõ. Có thể thấy, Việt Nam đang hướng tới một nền kinh tế mà hoạt động số hóa trở thành chủ đạo, với sự đóng góp lớn từ công nghệ và sự tham gia rộng rãi của doanh nghiệp và người dân.
Chính phủ xác định nền móng kinh tế số dựa trên các yếu tố chính: thể chế; hạ tầng; nền tảng số; dữ liệu số; an toàn thông tin mạng và an ninh mạng; nhân lực số; kỹ năng số, công dân số và văn hóa số; doanh nghiệp số; thanh toán số. Phát triển kinh tế số và xã hội số được thực hiện toàn diện trong tất cả các ngành, lĩnh vực và tập trung phát triển một số ngành, lĩnh vực trọng điểm: nông nghiệp và nông thôn; y tế; giáo dục và đào tạo; lao động, việc làm và an sinh xã hội; thương mại, công nghiệp và năng lượng; du lịch; tài nguyên và môi trường...

Kinh tế số và những thách thức đối với lao động Việt Nam
Kinh tế số tác động mạnh mẽ đối với nền kinh tế Việt Nam, đóng vai trò là động lực tăng trưởng mới, tác động sâu sắc đến cơ cấu và hiệu quả hoạt động kinh tế. Kinh tế số đóng góp trực tiếp vào GDP thông qua các ngành công nghiệp ICT, thương mại điện tử và dịch vụ số. Ứng dụng công nghệ (AI, tự động hóa, điện toán đám mây) giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất và quản lý, từ đó tăng năng suất lao động xã hội một cách đáng kể. Thương mại điện tử giúp các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng tiếp cận thị trường toàn cầu với chi phí marketing và vận hành thấp hơn so với mô hình truyền thống. Đồng thời, giảm chi phí giao dịch và tăng tính minh bạch thông qua các giao dịch số và hệ thống quản lý điện tử. Kinh tế số còn tạo ra các mô hình kinh doanh mới như dịch vụ chia sẻ (Grab, Be), Fintech (Momo, ZaloPay) và các nền tảng xuyên biên giới. Khuyến khích hình thành và phát triển các doanh nghiệp công nghệ số “Make in Vietnam” có khả năng cạnh tranh quốc tế…
Tuy nhiên, kinh tế số đang đặt ra nhiều vấn đề thách thức đối với nền kinh tế hiện nay. Đó là vấn đề bất bình đẳng do sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn, có thể làm gia tăng khoảng cách kinh tế và xã hội nếu không có chính sách hỗ trợ kịp thời. Cùng với đó là vấn đề về an ninh và bảo mật dữ liệu với sự gia tăng các giao dịch trực tuyến kéo theo rủi ro về tấn công mạng, đánh cắp dữ liệu, đe dọa đến niềm tin của người dùng và sự ổn định của hệ thống tài chính. Một thách thức khác là với sự xuất hiện của các nền tảng công nghệ toàn cầu (Big Tech) tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt, đôi khi chèn ép các doanh nghiệp trong nước.
Đối với thị trường lao động Việt Nam, kinh tế số làm thay đổi sâu sắc cấu trúc việc làm, yêu cầu kỹ năng và hình thức lao động. Đó là tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới với sự phát triển các ngành công nghiệp mới như lập trình AI, phân tích dữ liệu, điện toán đám mây, an ninh mạng, tạo ra hàng ngàn việc làm với thu nhập cao và giá trị gia tăng lớn; tạo ra việc làm linh hoạt thông qua “nền kinh tế hợp đồng” như tài xế công nghệ, cộng tác viên nội dung, freelancer IT. Công nghệ số đòi hỏi và thúc đẩy người lao động tự học hỏi và nâng cao kỹ năng số, kỹ năng mềm để thích nghi với môi trường làm việc mới. Điều kiện làm việc được cải thiện do loại bỏ các công việc đơn giản, nguy hiểm với việc robot hỗ trợ, tự động hóa. Song đây là nguy cơ thất nghiệp đối với người lao động do công nghệ tự động hóa và robot hóa sẽ thay thế con người ở các vị trí lao động đơn giản, lặp đi lặp lại trong sản xuất, dịch vụ nhập liệu và giao dịch. Vì vậy, nhóm lao động có trình độ thấp và trung bình trong các ngành sẽ là nhóm chịu ảnh hưởng lớn nhất. Hiện nay, nền kinh tế đang thiếu hụt trầm trọng lao động có kỹ năng số chuyên sâu, đa số lao động truyền thống thiếu các kỹ năng cơ bản để làm việc trong môi trường số, dẫn đến sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động. Cùng với đó là thách thức về quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và bảo đảm quyền lợi cho người lao động linh hoạt…
Kinh tế số đòi hỏi Việt Nam phải có các chiến lược giáo dục, đào tạo lại và chính sách xã hội linh hoạt để tối đa hóa cơ hội và giảm thiểu rủi ro, đặc biệt là đối với lực lượng lao động dễ bị tổn thương. Nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của phát triển kinh tế số, Chính phủ đã triển khai các vấn đề liên quan: (1) Đánh giá tác động của phát triển kinh tế số, xã hội số ở quy mô quốc gia và từng địa phương; trong đó, trọng tâm là đánh giá ảnh hưởng của công nghệ đối với các ngành, nghề và triển vọng việc làm để đưa ra phương án chuyển đổi phù hợp với chiến lược phát triển của quốc gia và địa phương. Ưu tiên thực hiện chuyển đổi cho các đối tượng chịu nhiều tác động, có khả năng bị thay thế bởi máy móc nhất. Triển khai các giải pháp giảm thiểu bất bình đẳng, thu hẹp khoảng cách và giảm tác động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế số, xã hội số. (2) Đánh giá các tác động của công nghệ số đến xã hội để có các giải pháp chủ động giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của công nghệ số; phát triển các Trung tâm giải đáp thắc mắc và hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng, tác động tiêu cực bởi công nghệ số. (3) Phát triển các ứng dụng, nền tảng số đơn giản, dễ sử dụng để hỗ trợ người dân tự kiểm soát được hoạt động và mức độ sử dụng công nghệ; ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo vào tự động kiểm soát truy cập và chặn lọc các trang Web, tài nguyên Internet độc hại hướng tới một không gian số an toàn, lành mạnh cho người dân. (4) Hình thành các điểm thu gom sản phẩm công nghệ thông tin, điện tử - viễn thông hư hỏng, hết hạn sử dụng, rác thải công nghệ, rác thải điện tử; đẩy mạnh áp dụng công nghệ xử lý phù hợp hướng tới một môi trường xanh và bảo vệ sức khỏe của người dân.

Một số giải pháp mấu chốt phát triển kinh tế số
Để phát triển kinh tế số tại Việt Nam một cách bền vững và toàn diện, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó tập trung vào các trụ cột chính:
Một là, nâng cao nhận thức và phát triển nguồn nhân lực số
Yếu tố con người quyết định sự thành công của kinh tế số. Trước hết, cần nâng cao nhận thức, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chuyển đổi số và kinh tế số cho cá nhân, doanh nghiệp và toàn xã hội. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có kỹ năng số, đáp ứng yêu cầu của các mô hình kinh doanh và sản xuất mới. Tăng tốc số hóa quản lý nhà nước và cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, nâng cao năng lực số cho cán bộ, công chức.
Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ số mũi nhọn như AI, Big Data, Blockchain và an toàn thông tin. Gắn kết đào tạo với thực tiễn và với việc tăng cường hợp tác giữa các cơ sở đào tạo với doanh nghiệp để chương trình học sát với nhu cầu thực tế của thị trường.
Hai là, hoàn thiện thể chế và chính sách
Kịp thời rà soát và bổ sung khung pháp lý, trong đó cần sửa đổi, bổ sung các luật và quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh, khởi nghiệp, giao dịch trong môi trường số, bao gồm các vấn đề như hợp đồng điện tử, chữ ký số, và quản lý dữ liệu. Ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số “Make in Vietnam” và thu hút vốn đầu tư vào nghiên cứu, phát triển công nghệ số. Đồng thời, tăng tốc tiến trình thực hiện Chính phủ số và dịch vụ công qua việc đẩy mạnh số hóa quy trình quản lý nhà nước, nâng cao tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 để tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế số.
Xây dựng và thực thi các chính sách, quy phạm pháp luật về an ninh mạng và bảo mật thông tin, đặc biệt là Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân. Triển khai và nhân rộng các nền tảng trợ lý ảo hỗ trợ cán bộ, công chức và người dân; hoàn thiện mô hình điều hành dựa trên dữ liệu qua Trung tâm Điều hành thông minh (IOC).
Ba là, phát triển hạ tầng số và công nghệ hiện đại
Tập trung nâng cấp hạ tầng viễn thông với việc đầu tư mở rộng và nâng cấp hạ tầng mạng lưới, đặc biệt là 5G và cáp quang để bảo đảm kết nối tốc độ cao và ổn định, bao phủ các khu vực nông thôn, miền núi. Phát triển trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây, xây dựng các trung tâm dữ liệu đạt chuẩn quốc tế và khuyến khích doanh nghiệp trong nước phát triển nền tảng điện toán đám mây nội địa để làm chủ công nghệ lõi và bảo vệ chủ quyền dữ liệu. Chuyển từ ứng dụng sang phát triển công nghệ và làm chủ công nghệ lõi (như AI, IoT, Blockchain).
Đồng thời, đẩy mạnh dữ liệu số quốc gia, xây dựng và kết nối các cơ sở dữ liệu quốc gia (như dân cư, đất đai, doanh nghiệp) để chia sẻ và phân tích dữ liệu, phục vụ việc ra quyết định và cung cấp dịch vụ công. Đặc biệt, tăng cường an ninh mạng, xây dựng các chính sách, quy phạm pháp luật nghiêm ngặt về an ninh mạng và bảo mật thông tin để bảo vệ dữ liệu cá nhân, doanh nghiệp và quốc gia.
Bốn là, thúc đẩy chuyển đổi số doanh nghiệp và phát triển kinh tế số ngành
Nhà nước quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số bằng việc có chính sách hỗ trợ tài chính, công nghệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ứng dụng công nghệ số vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý. Phát triển nền tảng số quốc gia, ưu tiên xây dựng và đưa vào sử dụng các nền tảng số dùng chung, thống nhất trong từng ngành, lĩnh vực (như logistics, nông nghiệp, du lịch, thương mại điện tử) để thúc đẩy kinh tế số ngành.
Song song với đó phải thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, hoàn thiện hạ tầng và cơ chế thanh toán số để biến thanh toán không tiền mặt trở thành đòn bẩy cho thương mại điện tử và kinh tế số. Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp số bằng việc khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo ứng dụng công nghệ số để tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới, xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp số đa dạng, năng động. Có chính sách ưu đãi tín dụng hoặc miễn giảm thuế nhập khẩu thiết bị, phần mềm phục vụ chuyển đổi số…
Kinh tế số không chỉ là một lĩnh vực mà là một phương thức phát triển mới, được coi là động lực cốt lõi để hiện thực hóa các mục tiêu tăng trưởng GDP cao và bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và vị thế quốc gia. Phát triển kinh tế số là một trong những chiến lược quan trọng để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, thích ứng và vững vàng trước những tác động, thách thức trong một thế giới nhiều biến động./.
---------------
(1) Quyết định số 411/QĐ-TTg, ngày 31-3-2022 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.